IPv6 toàn tập

Go down

IPv6 toàn tập

Post  telecom1988 on Fri May 08, 2009 4:01 pm

Tập 1: Sự ra đời của IPv6

Khi đưa ra chuẩn của IPv4 thì IETF cũng đã tiên đoán được về sự thay thế của nó nhưng họ nghĩ là cần 10 năm để giải quyết các vấn đề còn tồn tại của IPv4. Nhưng đến năm 1990 với sự phát triển nhanh của mạng Internet và WWW đã làm cho IPv4 không thể đáp ứng kịp thời cùng với sự phát triển đó.
Không gian địa chỉ IPv4 hiện tại không thể đáp ứng thoả đáng cùng với sự tăng nhanh của người sử dụng Internet từ khắp thế giới mặc dù đã có rất nhiều kĩ thuật nhằm làm tăng tuổi thọ của IPv4 như NAT, CIDR hay DHCP. Nhưng điều này cũng chỉ là giải pháp mang tính tạm thời chứ không thể giải quyết một cách triệt để được hết hai tồn tại sâu xa của IPv4 đó chính là:
• Sự giới hạn mạng tính nguyên tắc của không gian địa chỉ IPv4.
• Tốc độ phát triển của mạng Internet quá nhanh làm cho dung lượng bảng định tuyến ở các bộ định tuyến tăng nhanh. Điều này làm cho các bộ định tuyến không đủ sức chứa hết các thông tin về định tuyến.
Trước tình hình trên, cộng sự phát triển như vũ bão của các thiết bị không dây, các thiết bị điều khiển, các thiết bị hổ trợ các máy cá nhân số,… đòi hỏi phải có một công nghệ mới ra đời nhằm khắc phục được những vấn đề mà IPv4 không giải quyết một cách triệt để được. Thách thức mà IETF phải đối mặt đó chính là việc lựa chọn một công nghệ Internet thế hệ mới IPng(Internet Protocol next generation) như thế nào để có thể đáp ứng được sự đòi hỏi của thị trường. Nhưng một vấn đề đặt ra là IPng phải tương thích ngược với IPv4. Và công nghệ mới đó chính là IPv6. IPv6 được thiết kế đáp ứng lại được yêu cầu của người sử dụng, các chương trình ứng dụng, sự đòi hỏi của chất lượng dịch vụ đồng thời nó cũng đảm bảo tính trong suốt của các ứng dụng đối với người sử dụng với các đặc tính nỗi bật như sau:
Phần mào đầu của IPv6 : được thiết kế với dạng khác hơn so với IPv4 nhằm làm cho kích thước phần mào đầu là nhỏ nhất.
IPv6 có 128 bits nên không gian địa chỉ của IPv6 lớn hơn rất nhiều so với IPv4. Chính điều này tạo điều kiện cho IPv6 có thể phân cấp được nhiều mức hơn mà không cần sử dụng cơ chế dịch địa chỉ NAT.
IPv6 hổ trợ cho cả hai cơ chế đánh địa chỉ stateful và stateless mà không cần dùng đến server DHCP. Với cơ chế đánh địa chỉ stateful, nó cho phép các host hoặc router tự động cấu hình địa chỉ IPv6 cho mình mà không cần đến sự trợ giúp của con người.



Một đặc điểm rất nỗi bật của IPv6 so với IPv4 chính là cơ chế bảo mật. IPv6 được sự hổ trợ một cách mặc định của giao thức IPSec điều này đã tạo ra một giải pháp bảo mật mạng rất hiệu quả.
Trong phần mào đầu của IPv6 có sự xuất hiện của trường Flow label. Trường này cho phép router chuyển các gói một cách liên tục nhau từ nguồn đến đích nhằm đảm bảo chất lượng cho các dịch vụ được cung cấp ngay cả khi gói đó được mã hoá trong IPSec.
IPv6 còn cung cấp một đặc điểm ưu tiên nhằm hổ trợ cho các ứng dụng thời gian thực. Nên đây chính là sự lựa chọn của các ứng dụng thời gian thực.


Tập 2: Cấu trúc mào đầu của IPv6

Các gói IPv6 mang bên trong nó các thông tin của mạng nội bộ cũng bao gồm hai phần như IPv4 là phần mào đầu cơ bản cộng với phần mào đầu tuỳ chọn mở rộng. Phần mào đầu đầu tuỳ chọn mở rộng có thể có hoặc không có. Dạng khung tổng quát của IPv6 như sau:

Mào đầu IPv6 gồm 8 trường có độ dài 40 octet có dạng như sau:


• Version(4 bits): trường này dài 4 bits cho phép xác định phiên bản của IP ở đây dùng IPv6.
• Traffic class(8 bits): ở RFC 1883 thì trường này có tên là Prority sau đó được đổi tên là Class và sau cùng mang tên Traffic class. Trường này có độ dài 8 bits thay thế cho trường Type of service trong IPv4 cho phép phân biệt các mục giữa các dịch vụ
truyền gói nhằm hổ trợ cho các tín hiệu truyền tải phụ thụôc vào thời gian chẳng hạn như thoại hoặc hình dựa trên giao thức IP. Một số yêu cầu chung dành cho trường này được quy định trong RFC 2460 như sau:
Giá trị mặc định của trường này là 0.
Nếu nút nào hổ trợ một chức năng cụ thể nào đó thì nó sẽ làm thay đổi giá trị của trường này trong gói nguyên thuỷ và ngược lại, nếu không hổ trợ thì nó sẽ giữ nguyên giá trị ban đầu.
• Flow label: trường này có độ dài 20 bits được host sử dụng để gởi các yêu cầu về chất lượng dịch vụ mang tính thời gian thực. Khi có dịch vụ đòi hỏi tính thời gian thực như thoại thì host hoặc router sẽ gán cho trường này giá trị khác 0 để tất cả các gói có cùng địa chỉ nguồn, đích và giá trị Flow label sẽ được chuyển một cách tuần tự nhau từ nguồn đến đích.
• Payload length(16 bits): dùng để đo chiều dài phần thông tin theo đơn vị octet (tính luôn cả phần mào đầu mở rộng ).
• Next header field(8 bits): trường này giống như trường protocol của IPv4 có độ dài 8 bits dùng để xác định loại thông tin đi sau mào đầu cơ bản của IPv6. Loại thông tin này có thể là một gói ở lớp truyền tải chẳng hạn như TCP hay UDP hoặc cũng có thể là phần mào đầu mở rộng. Các giá trị sử dụng trong trường này giống với ở IPv4 chẳng hạn như: 0  các tuỳ chọn hop by hop hay 1 ICMPv4,…
Một gói IPv6 có thể bao gồm một mào đầu IPv6 cộng với phần tải của nó và kèm theo 0, 1 hoặc nhiều mào đầu mở rộng được dùng cho việc định tuyến hay phân mảnh
• Hop limit(8 bits): có chiều dài 8 bits giá trị của trường này giảm khi qua một hop và khi trường này về 0 thì gói bị huỷ. Trường này giống như trường Time to live ở IPv4.
• Source/ destination address: địa chỉ nguồn/ đích của gói tin.[img]
avatar
telecom1988
Admin

Posts : 317
Join date : 2009-04-08
Age : 30
Location : 144 Xuan Thuy - Cau Giay - Ha Noi

View user profile http://banks.forum.st

Back to top Go down

Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum